Công và Quảng

Quảng trường ở Siena

Bài viết này chưa hoàn chỉnh, nhưng do hiện tại không có thời gian để nghiên cứu thêm và tìm thêm tài liệu nên chỉ có như vầy. Mọi người ai có ý kiến thì tác giả xin ghi nhận nhưng hẹn khi nào tìm đủ tài liệu sẽ bổ sung sau.

*****

Trong tiếng Việt, cách dùng hai từ “công trường” (không phải với nghĩa như công trường xây dựng) và “quảng trường” không rõ ràng. Một điều thú vị trong cách dùng này là nó phản ánh cảm nhận về văn hóa và chính trị liên quan đến xuất xứ của hai khái niệm “công trường” và “quảng trường”. Trong khi chưa xác định là nên “công” hay “quảng”, tạm thời hãy dùng “công/quảng trường” (CQT).

Khái niệm ban đầu

Ở châu Âu, khái niệm CQT như là một khoảng đất rộng trong thành phố dành cho sinh hoạt công cộng bắt đầu vào thời kỳ La Mã. Khoảnh đất này thường không có cây, xung quan là nhà ở, văn phòng của chính quyền, hoặc nhà thờ, v.v… Xưa, đây là nơi để họp chợ là chính, rồi tụ họp vào các dịp hội hè đình đám, vận động chính trị, tổ chức lễ nghi có tính cách tôn giáo, hoặc là nơi thi hành các lệnh xử tử.

Khi thành phố bắt đầu phát triển ở châu Âu vào thời Trung Cổ, khái niệm CQT lan rộng và trở nên quen thuộc đối với các thành phố châu Âu. Đến thế kỷ 20, các thành phố mới xây sau ở châu Âu vì lý do bị chiến tranh tàn phá hoặc do quy hoạch mới cũng vẫn áp dụng khái niệm CQT để tạo ra không gian sinh hoạt công cộng cho người dân. Nhưng phải nói ngày nay chỉ có ở Ý là nơi vẫn còn lại vô số những CQT cổ này. Thành phố lớn nhỏ gì ở Ý cũng có CQT. Còn ở các thành phố khác ở châu Âu mức độ phổ biến của CQT đều khác nhau.

Vấn đề chuyển dịch trong ngôn ngữ và khái niệm

CQT với cấu trúc và chức năng miêu tả như trên trong tiếng Ý gọi là piazza, tiếng Đức là platz, tiếng Pháp là place, tiếng Tây Ban Nha là plaza, tiếng Anh là square. Tiếng Việt là “quảng trường”. Hồi xưa miền Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng của Pháp sớm nhất nước, vậy tại sao không có quảng trường?

Thật sự thì người Việt Nam lúc trước biết đến Pháp chủ yếu là biết đến Paris. Mặc dù ở Pháp cũng có quảng trường, nhưng quảng trường không phổ biến ở Pháp lắm và ở Paris không có quảng trường – thay vào đó là các bùng binh và vườn hoa ngay trong thành phố. Sài Gòn được xây theo mô hình của Paris do đó Sài Gòn cũng có vườn hoa và bùng binh mà không có quảng trường.

Không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước châu Á khác khái niệm quảng trường cũng là mới. Cho đến tận bây giờ cũng không phổ biến mà nếu có thì cũng được nhắc đến như là nơi xảy ra một biến cố mang ý nghĩa chính trị quan trọng, như quảng trường Thiên An Môn gần đây. Xưa hơn là quảng trường Ba Đình ở Việt Nam. Quảng trường Ba Đình thành hình là theo sau những biến động về xã hội và chính trị ở Nga liên quan đến khu vực quảng trường Đỏ. Do đó Hà Nội là thành phố duy nhất ở Việt Nam có quảng trường gọi là Ba Đình – là khoảng đất rộng đủ để hội họp và biểu tình chính trị và là nơi Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập vào năm 1945.

Tóm lại, có thể nói quảng trường trong tiếng Việt tương đương với piaza, platz, place, plaza, square cả về mặt kiến trúc và chức năng, cho nên khi dịch tên các địa điểm du lịch như Postdamer Platz, Piazza dei Miracoli/Miracle Square thì phải thành quảng trường Postdamer, quảng trường Phép Lạ – bởi vì “công trường” (không phải với nghĩa như công trường xây dựng) nói đến một cấu trúc hoàn toàn khác.

Công trường ở Việt Nam

Sài Gòn thời thuộc Pháp có Công trường Rigault de Genouilly. Sang thời Đệ nhất Cộng hòa đường Paul Blanchy được đổi tên thành Hai Bà Trưng và công trường đó được gọi là Công trường Mê Linh. Nơi đó có tượng đài Hai Bà nhưng vì khuôn mặt được tạc giống Trần Lệ Xuân và Trần Lệ Thủy nên khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ tượng này cũng bị phá đi và sau đó được thay bằng tượng Trần Quốc Tuấn.

Gọi là “công trường” để phân biệt với quảng trường là đúng bởi vì khu vực này không phải là mảnh đất trống thật rộng để có thể tụ tập vì nhiều lý do khác nhau, mà chỉ là một thẻo đất nhỏ trong đó có thiết kế một tượng đài kỷ niệm với cây, hoa chung quanh, gần như là một vườn hoa nhỏ. Nó cũng lại nằm tại khu vực bùng binh nơi các con đường cắt nhau và xe cộ qua lại tấp nập.

Ngày nay ở Sài Gòn, các khu vực bùng binh mà có tượng đài hoặc vườn hoa nhỏ, hoặc có cả hai, đều được gọi là công trường. Ví dụ các công trường mới như Công trường Dân Chủ (quận 10), Công trường Quách Thị Trang (Bến Thành, Q. 1), v.v… Thật ra thì người Sài Gòn ít dùng từ công trường mà hay dùng từ bình dân của địa điểm đó thôi. Chẳng hạn người Sài Gòn ai cũng biết Hồ Con Rùa nhưng ít ai biết là tên chính thức vào năm 1972 của nó là Công trường Quốc tế. Do đó khái niệm công trường ở Việt Nam có đã lâu nhưng cũng không phải là rất phổ biến.

Vậy là công trườngquảng trường là hai từ chỉ hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Quảng trường thì trong các các ngôn ngữ khác cũng có, nhưng công trường thì không. Nếu người ta có bùng binh thì người gọi là bùng binh (roundabout, rotary, rond point) chứ không gọi là công trường!

Hồ Con Rùa/Công trường Quốc tế (Ảnh: vi.wikipedia.org)

Advertisements

One thought on “Công và Quảng

  1. Xin tác giả vui lòng cho em xin thông tin liên hệ được không ạ. Vì em đang nghiên cứu về đề tài quảng trường ở trung tâm TP.HCM. Em có rất nhiều băn khoăn về việc lập lờ giữa quảng trường và công trường. Cũng như câu hỏi đặt ra là TP.HCM đã từng có quảng trường không? Vì sao người ta cũng thường cho rằng quảng trường còn gọi là công trường?
    Em đang tìm tài liệu về quảng trường nhưng cũng hiếm hoi quá, mong tác giả giúp đỡ em ạ!
    Em xin cảm ơn!

Comments are closed.