Chuyện vui ngày lễ: Trí khôn dân gian

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

 —– Read the English version —–

Năm hết, Giáng Sinh đến, rồi Năm Mới, rồi Tết. Nhạc Noel nhạc Xuân khắp nơi. Những cửa hàng đầy ắp hàng hóa với những lời mời hấp dẫn. Những món quà và và những món ăn. Ăn uống ê hề.

Con người bình thường chúng ta ngày nay ăn uống còn hơn vua chúa ngày xưa. Món ngon dưới biển trên rừng không thiếu thứ gì. Ăn đến nỗi không còn biết ăn cái gì là ngon nữa.

Nếu bạn nằm trong số người này thì bạn thật là may mắn. Theo thống kê, 1 trong 8 người bị đói ăn trên thế giới, và ở Mỹ, 1 trong 5 trẻ em bị đói ăn. Vì vậy mà ngày nay người ta vẫn tiếp tục các chiến dịch chống đói toàn cầu. Cứ nghĩ tới chuyện ăn uống, đặc biệt là chuyện ăn uống mấy ngày lễ, tôi không khỏi chạnh lòng nhớ tới những người đói ăn, những người vẫn phải lo toan đến miếng ăn hàng ngày. Ăn hôm nay không đủ để dành ngày mai. Và tôi lại nhớ tới câu chuyện “Thết Chúa Đại Phong” của Trạng Quỳnh. Nếu bạn không biết ăn gì vào ngày lễ, hãy nghĩ tới những người đói ăn, rồi mời bạn thử món ăn sau của Trạng Quỳnh.

Món mầm đá của Trạng Quỳnh

Chúa Trịnh ngày nào cũng yến tiệc, ăn của ngon nhàm mồm đâm ra khó tính. Một hôm chúa phàn nàn với Quỳnh:
– Ta ngẫm không còn thiếu thứ gì quý hiếm trên đời chưa thưởng thức. Quái lạ, thế mà vẫn chưa món nào làm ta thực sự cảm thấy ngon miệng. Điều đó là tại làm sao, Trạng nói ta hay?
Quỳnh nói luôn:
– Thế chúa đã xơi món mầm đá bao giờ chưa?
Chúa lấy làm lạ:
– Món mầm đá thế nào, chắc ngon lắm phải không?
Quỳnh đáp:
– Tuyệt trần đời. Nhưng muốn ăn mầm đá phải kỳ công.
Chúa liền nằng nặc:
– Sợ gì công phu! Miễn là được ăn ngon. Nhất là lúc này, người đang mệt mỏi, ta đang rất cần ăn biết ngon. Trạng hãy mau chóng cho làm móm mầm đá kia đi!

Ít lâu sau, vào tờ mờ sang. Quỳnh cho gia nhân mời chúa đến nhà thết tiệc mầm đá. Chúa đến nhà Trạng ngay từ mới rạng sáng. Đến khi mặt trời đứng bóng, vẫn thấy Quỳnh bận rộn lụi hụi dưới bếp, thỉnh thoảng chạy ra, chạy vào, mồ hôi nhễ nhại, khăn tay vắt vai, tay áo xắn đến khuỷu… Chúa nghĩ thầm: “Đúng là món mầm đá kỳ công thật, nên Trạng mới phải ra tay đốc thúc nhà bếp tất tưởi như thế kia!”

Quá ngọ, sang mùi, bụng chúa bắt đầu cồn cào. Quỳnh vừa ló mặt, chúa chép miệng, trách:
– Sao “mầm đá” lâu chín thế? Biết thế này ta chẳng nhận lời đến nhà Trạng hôm nay.
Quỳnh lấy khăn tay thấm mồ hôi trán khải rằng:
– Thần muốn chúa ngon miệng nên mới dụng công ninh “mầm đá” thật công phu. Xin gắng đợi chút nữa, sắp chín rồi…

Một chốc chúa lại giục, Quỳnh lại khẩn khoản thưa: “Gắng đợi thêm một chút mầm đá không kỹ lửa, không ninh nhừ khó tiêu…”

Mặt trời xế bóng vẫn chưa thấy món mầm đá được dọn ra. Mùi cá khô, lẫn mùi khói bếp bên mấy nhà vào bữa cơm chiều, làm chúa “nhức lỗ mũi”, ứa nước dãi. Chúa đành gọi Quỳnh lên, ngồi lù đù hóp bụng lại, thú thật:
– Ta đói lắm rồi, không đợi được nữa. Mẩm đá để dành ăn sau cũng được. Bây giờ có thức gì dùng tạm, Trạng cứ cho mang lên!
Quỳnh dạ một tiếng, vẻ miễn cưỡng rồi hét vọng xuống bếp:
– Cứ chất thêm củi vào nồi “mầm đá”! Hãy bưng cơm lên dâng chúa dùng cho qua loa đã chúng bay!

Gia nhân dạ ran, rồi bê cái mâm lên. Bữa xoàng, có một phạng cơm với rau muống luộc, và một chiếc hũ sành. Chúa thấy ngoài chiếc hũ đề hai chữ “đại phong”. Chúa ăn cơm rau chấm nước “đại phong” ngon lành và nghĩ bụng chắc món này cũng quý hiếm đặc biệt. Ăn xong, chúa ngắm nghía chiếc hũ, lại nhìn Trạng:
– Này khanh, “đại phong” là món gì mà ngon lạ như vậy?
Quỳnh thưa:
– Khải chúa, đây chỉ là món thường nhật của con nhà trong làng.
Chúa không tin:
– Hai chữ “đại phong” là nghĩa thế nào?
Quỳnh tủm tỉm cười:
– Nhà chúa nhìn được mặt chữ, tự giải lấy, khắc rõ.

Chúa lẩm bẩm: – Đại phong tức là gió lớn, phải không? Quỳnh gật đầu, hỏi tiếp: – Vậy gió lớn thì làm sao? Chúa bối rối như học trò không thuộc bài, nhìn Trạng. Quỳnh giảng giải: – Gió lớn ắt đổ chùa! Trạng lại tiếp, hỏi dần: – Đổ chùa thì làm sao? Chúa càng ấp úng. Quỳnh nói: – Đổ chùa thì sư, vãi bỏ chạy, xôi oẵn mất hết… Của ngọc thực rơi vãi hết thì ông bụt nào cũng phải lo… Tượng lo thì làm sao? Trạng hỏi, đáp, dồn dập, liên hồi. Chúa chỉ còn biết ngồi trơ ra như phỗng. Quỳnh bèn khẽ khàng cắt nghĩa: – Đến trẻ con cũng biết đọc ngược: thì “tượng lo” là “lọ tương”. Khải chúa, thứ tương đỗ này không cao sang đâu, chẳng qua chúa quên mất những miếng ngon lành ở làng xóm rồi. Nay thần bày cách ninh “mầm đá”, chẳng thể đun được nhừ, đợi đến bao giờ cũng không có thể ăn được. Chúa cứ ngồi cho bụng thật đói, miệng thật thèm, bấy giờ chỉ cần lấy lưng cơm với món “đại phong” xoàng xĩnh này, chúa thấy ngon miệng.

Chúa Trịnh bừng tỉnh trước một sự thật ngay bên mình… Chúa đứng dậy, cảm ơn Trạng, ra về.

Bài học: Ngoài việc học lại món “mầm đá” lâu ngày không ăn, tôi lại một lần nữa có dịp xuýt xoa cái lí lắc trong tiếng Việt. Nói ngược, hay nói lái, đúng là một điều vô cùng đặc biệt của tiếng Việt.

Nói đến chuyện lí lắc, thường tình ta nghĩ con nít hay lí lắc, còn người lớn tuổi thì không. Chưa chắc đâu nhé. Xin kể sau đây một mẩu chuyện với ông bác 99 tuổi để các bạn xem.

Trí khôn của ông Đại

Ông Đại: Ba má cháu khỏe không?
Anvi: Dạ khỏe. Nhưng Ông Ba cứ than lạnh miết.
Ông Đại: Ổng than nhiều thì chắc là ấm rồi hỉ?
Anvi: ?????
2 giây sau.
Anvi: Ồ, hahahaha…

Bạn nào chưa ‘thấy ấm’ mình ‘bật mí’ nhé: than thở và than đá đều là … than! 😉

Bài học: Một là: đừng coi thường người lớn tuổi. Hai là: chúng ta nên học cái khôn ngoan lành mạnh của ông Đại. Cũng nên làm bạn với những người lạc quan vui vẻ như ông Đại để cho đời thêm vui, để được cười hồn nhiên thoải mái, để được uống thuốc bổ không tốn tiền – loại thuốc bổ quý nhất, không hóa chất, không độc hại, không tác dụng phụ, dễ lây lan và được vui vẻ đón nhận ở khắp mọi nơi trên trái đất.

Lại nói đến chuyện “tác dụng phụ” và “dễ lây lan”, tôi lại nhớ tới chuyện vui trên bàn nhậu của mấy ông bợm. Đây là nơi “không biên giới”, chuyện gì cũng có thể nói và bàn được. Xin chú ý, câu chuyện sau đây không dành cho người dưới 18 tuổi!!!

Chuyện vui của bạn nhậu

Nhậu 1: Anh biết tại sao Hà Tĩnh trăm năm nay cứ nghèo mạt thế không?
Nhậu 2: Tại đất nó cằn.
Nhậu 1: Đúng. Nhưng chính xác hơn là vì nó có Đèo Ngang.
Nhậu 2: Đèo Ngang à. Ừ đúng quá nhỉ. Thế sao người ta không đổi tên quách đi?
Nhậu 1: Đã. Có một dạo họ đổi thành Đèo Nghếch. Nhưng cũng không giải quyết được chuyện gì. Nghèo vẫn cứ nghèo.
Nhậu 2: Ừm… Đèo Nghếch à. Dào ôi, họ chọn không đúng tên rồi. Phải đổi thành Đèo Đứng thì mới hết nghèo!
Nhậu 1: Hahaha… Anh nói phải. Tôi cũng nghĩ thế!

(Nếu bạn nào chưa cười vỡ bụng thì xin bật mí ở đây, đọc lái các chữ như sau: Đèo Ngang = Đang Nghèo, Đèo Nghếch = Đếch Nghèo. Còn Đèo Đứng xin mời tự đọc và cười lấy nhé. Nếu cần giải thích thêm thì email riêng nhé. Coi chừng em bé nào đứng bên cạnh nó có hỏi thì phải tìm cách khôn khéo mà trả lời!)

Bài học: Tiếng Việt hay đáo để. Mà người nghĩ ra chuyện cười này còn đáo để hơn. Thật đúng không sai chút nào, bàn tiệc là nơi người ta học được các tin đồn … đúng y sự thật! Hãy nhìn các nước Bắc Âu mà thèm: Na Uy – dân số 5 triệu, Thụy Điển – 10 triệu, Phần Lan – 5.4 triệu, v.v. Mức sống cao, xã hội văn minh, dân trí cao, v.v. Dân số thế giới đã quá tải. Ở nhiều nơi người ta sống chen chúc, vất vả. Các nước đông dân mà nghèo trên thế giới quả là nên có Đèo Đứng khắp nơi!

*****

Thông thường, chỉ có người thông minh và khôn ngoan mới có thể nghĩ ra chuyện vui làm cho người xung quanh được cười nhăn răng một trận hồn nhiên và thoải mái. Cả đời tôi cứ ao ước mình là người như thế. Khổ thay, tính hài hước thì “trời cho ai người đó hưởng”. Nếu không có khiếu khôi hài thì không phải muốn giỡn là giỡn được, đó là chưa kể giỡn vô duyên, không những người khác không cười được mà còn có thể làm người khác buồn phiền. Tôi cũng đồng ý với câu nói đó. Tuy nhiên, theo tinh thần lạc quan: chuyện gì cũng có thể thực hiện được. Tính khôi hài có thể luyện tập để cải thiện. Trong tinh thần đó, nếu mình không nghĩ ra chuyện cười thì học chuyện cười của người khác. Mỗi ngày một chuyện. Chỉ cần xác định là mình chọc cười để đem lại tiếng cười hồn nhiên thoải mái cho người khác, từ đó chọn lựa chuyện để học. Thế thôi. Hôm nay bạn đã cười chưa?

–> Đọc bài tiếng Anh 

 

Advertisements